kích sữa hiệu quả bit ly tin tức ô tô 09/24/08 | Bệnh tiểu đường kiến thức cần biết

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2008

Bệnh tiểu đường và thai nghén

Tiểu đường và thai nghén bao gồm hai loại, một là phụ nữ khi có thai đã bị mắc bệnh tiểu đường từ trước, hai là bệnh lý tiểu đường do thai nghén gây ra. Loại thứ hai xuất hiện khi có thai và thường khỏi sau khi sinh, một số ít để lại di chứng tiểu đường kéo dài.
Tiểu đường là một bệnh lý về rối loạn chuyển hóa glucid, biểu hiện bằng tình trạng tăng lượng đường trong máu, nếu cao quá có thể xuất hiện đường trong nước tiểu, đây là bệnh của các nước phát triển.
Nguy cơ đầu tiên có thể xảy ra đối với thai nhi phải kể đến là thai bất thường. Loại này hay gặp ở những người mẹ bị mắc bệnh tiểu đường có sẵn từ trước. Ngoài nguy cơ thai dị dạng, còn có các nguy cơ khác như sảy thai, thai chết lưu, thai suy mạn tính, thai kém phát triển, đẻ non tháng, đa ối cấp, đa ối mạn tính...
Thai to cũng hay gặp và thường được đề cập nhiều nhất trong trường hợp mẹ bị tiểu đường (bao gồm cả hai loại). Nhưng ở những trường hợp này, mặc dù thai to nhưng rất yếu, dễ bị rối loạn chuyển hóa và mắc các bệnh trong thời kỳ sơ sinh cũng như rất dễ bị nguy cơ hạ đường huyết sau sinh.
Bên cạnh biến chứng hạ đường huyết sau sinh, trẻ sơ sinh còn có thể bị hạ calci huyết nhưng nguy cơ này ít gặp và ít nguy hiểm hơn. Đó là các nguy cơ đối với thai nhi, còn với người mẹ, ngoài những nguy cơ biến chứng của tiểu đường như rối loạn chuyển hóa, nhiễm khuẩn, tổn thương thận, mắt thì về mặt sản khoa, người mẹ còn dễ có nguy cơ bị nhiễm độc thai nghén, tiền sản giật.
Vậy phát hiện và xử trí như thế nào?
Tiểu đường do thai nghén gây nên lại thường xảy ra ở tuổi thai từ tuần thứ 24 trở đi. Chính vì vậy, ở các nước phát triển người ta tiến hành sàng lọc một cách hệ thống tất cả các phụ nữ mang thai ở độ tuổi thai từ 24-28 tuần hoặc ít ra cũng sàng lọc ở những người có nguy cơ cao như những phụ nữ béo phì, lớn tuổi (trên 35 tuổi), tăng cân nhiều trong lúc có thai (bình thường tăng khoảng 12kg), thai to hoặc tiền sử gia đình có người bị tiểu đường.
Khi đã phát hiện mắc bệnh tiểu đường, người mẹ cần tuân thủ nghiêm ngặt chế độ ăn theo sự hướng dẫn của bác sĩ (chế độ ăn ngoài việc cung cấp dinh dưỡng cho mẹ cũng cần một lượng calo để nuôi dưỡng thai nhi phát triển), thường là chế độ ăn hạn chế glucid.
Ngoài việc theo dõi về tình trạng tiểu đường của người mẹ, cũng cần theo dõi sự phát triển của thai nhi, siêu âm có thể giúp phát hiện sớm những dị dạng. Sau khi sinh người mẹ cần được theo dõi chặt chẽ về tình trạng tiểu đường, chế độ ăn giảm glucid, đặc biệt sản phụ dễ bị nguy cơ nhiễm khuẩn hậu sản. Sản phụ cũng cần được khám lại về nội tiết xem tình trạng tiểu đường đã ổn định hay chưa, đặc biệt là tiểu đường thai nghén vì loại này có thể chuyển sang tiểu đường béo phì sau này.
Theo Sức khỏe & Đời sống

Đối phó với bệnh tiểu đường

Theo PGS.TS Nguyễn Thị Lâm, Phó Giám đốc Viện Dinh dưỡng Quốc gia, nếu biết kết hợp chế độ ăn uống và tăng cường hoạt động thể lực thì có thể chữa được tiểu đường type 2 giai đoạn đầu.
Tiểu đường (đái tháo đường) là một hội chứng chuyển hoá đặc trưng bởi tăng đường máu, có thể gây ra những biến chứng nặng nề như bệnh thận, tổn thương đáy mắt, lao phổi, hoại tử chi, nhồi máu cơ tim và đột quỵ…

Trẻ em cũng bị tiểu đường
Theo tài liệu nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng Quốc gia, tiểu đường được chia ra làm 2 thể: type 1 và type 2. Trong đó, type 1 được xem là nguy hiểm hơn type 2, vì có thể gây nhiều biến chứng vi mạch ở mắt, thận, các chi cùng với thoái hoá dây thần kinh ngoại biên.
Nếu ở type 2 thường gặp ở người lớn tuổi, người béo quá mức thì type 1 lại thường thấy ở bệnh nhân gầy còm, người trẻ tuổi và đặc biệt là cả trẻ em trên 2 tuổi do di truyền.
Tiểu đường type 1 là do tuỵ mất khả năng tiết Insulin khi tế bào beta bị tổn thương, có thể phát triển từ bé nếu bị di truyền; còn tiểu đường type 2 lại âm ỉ do khả năng tiết Insulin của tuỵ giảm từ từ và do hiện tượng kháng tác dụng của Insulin ở hệ cơ bắp, gây hạn chế chuyển hoá glucose và tăng đường huyết. Đa số bệnh đái đường type 2 thường xảy ra ở những người béo quá mức và người trên 45 tuổi.
Từ nghiên cứu trên cho thấy, không phải thức ăn có nhiều đường là nguyên nhân dẫn tới bệnh tiểu đường. Các chuyên gia của Viện Dinh dưỡng Quốc gia cũng khuyến cáo, những người ngoài 40 tuổi không nên ăn quá nhiều đồ ngọt hoặc thức ăn rán quá béo… vì tiểu đường type 2 xảy ra âm ỉ, sự thiếu hụt Insulin từ từ và nếu ăn quá nhiều thức ăn như vậy sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường.

Không ăn phủ tạng động vật
Theo PGS.TS Nguyễn Thị Lâm, trong điều trị tiểu đường, chế độ ăn uống có vai trò rất quan trọng và có thể chữa được tiểu đường type 2 ở giai đoạn đầu nếu biết kết hợp chế độ ăn uống thích hợp và hoạt động thể lực.
Nguyên tắc ăn uống của người bị tiểu đường là phải cung cấp đủ nhu cầu dinh dưỡng nhằm đảm bảo cuộc sống bình thường (3 bữa chính+ từ 1-3 bữa phụ), duy trì trọng lượng cơ thể ở mức vừa đủ. Người gầy quá thì phải tăng cân và người béo nên giảm cân và bỏ dần thói quen ăn ngọt, xào, rán quá béo, rượu (nếu nghiện).
Năng lượng khẩu phần trung bình trong một ngày được tính theo trọng lượng cơ thể. Nếu nằm điều trị tại giường, chỉ cần 25Kcal/kg/ngày và hoạt động nhẹ tại nhà thì chỉ cần 30Kcal/kg/ngày. Trong đó: chất đạm (protid) khoảng từ 15-18%; chất béo (lipid) chiếm từ 20-25% và chất bột đường (glucid) chiếm từ 60-65%; chất xơ 40g và muối 1g/1.000Kcal. Nếu một người khoảng 50kg, làm việc nhẹ ở nhà thì tổng năng lượng hợp lý trong ngày được tính: 30 Kcal/kg x 50kg =1.500 Kcal (ước tính mỗi bát cơm là 150 Kcal-PV).
Ngoài ra, TS Lâm cũng khuyến cáo người bị tiểu đường không nên ăn nhiều đường ngọt, tinh bột vì những chất này góp phần làm tăng glucose trong máu, dẫn đến bệnh tiểu đường sẽ có nhiều biến chứng hơn. Không nên ăn các loại bánh kẹo ngọt, chocolate, quả ngọt khô, quả ngọt ngâm đường, mứt hoa quả, các loại nước uống có đường mật, nước uống đóng lon, chai sẵn.
Người bị tiểu đường có thể ăn hoa quả chín (80-100g/lần x 2-3 lần/ngày), nhưng phải giảm lượng cơm. Khi ăn quả chín nên ăn ở dạng miếng, không nên ăn ở dạng xay sinh tố, vì làm cho đường hấp thu nhanh hơn.
Đồng thời, không nên ăn những thực phẩm có nhiều cholesterol, đặc biệt là phủ tạng động vật, vì loại thực phẩm này có thể gây nên tình trạng rối loạn lipid máu, xơ vữa động mạch, hay nhồi máu cơ tim.
Theo bảng thành phần dinh dưỡng Việt Nam của Viện Dinh dưỡng Quốc gia, hàm lượng cholesterol trong 100g thực phẩm ăn được thì lòng đỏ trứng gà chiếm vị trí cao nhất: 1.790mg; trứng gà: 600mg; gan gà: 440mg; phomát: 406mg; bầu dục lợn: 375mg; gan lợn: 300mg; bơ: 270mg; tôm đồng: 200mg; lưỡi bò: 108mg; dạ dày bò: 95mg; mỡ lợn nước: 95mg; thịt bò hộp: 85mg; thịt ngỗng: 80mg; thịt vịt: 76mg; thịt ngựa: 75mg; cá chép: 70mg; thịt lợn, bò xay: 66mg; sườn lợn: 66mg…

Nguồn: http://www.giadinh.net

 

Copyright @ 2013 Bệnh tiểu đường kiến thức cần biết.

Designed by T , suc khoe