kích sữa hiệu quả bit ly tin tức ô tô Bệnh tiểu đường kiến thức cần biết

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2015

Chế độ luyện tập của bệnh nhân tiểu đường

Hoạt động thể lực, tập thể dục đều đặn là việc làm rất tốt cho người bệnh đái tháo đường giúp cho cơ thể tiêu thụ đường dẽ dàng hơn làm giảm lượng đường máu, do đó có thể làm giảm liều lượng Insulin hoặc một số thuốc hạ đường máu khác. Hoạt động thể lực làm tăng tiêu thụ năng lượng, giảm nguy cơ béo phì, cải thiện tình trạng hoạt động cảu các cơ quan, nâng cao tình trạng sức khoẻ toàn cơ thể, tinh thần hoạt bát, sảng khoái tăng sức đề kháng với các stress bất lợi.

Nguyên tắc:
Luyện tập phải từ từ và thích hợp
Phải được phép của thầy thuốc về mức độ và thời gian luyện tập
Phải đề phòng hạ đường huyết khi luyện tập.
Không tham gia luyện tập khi đang mắc các bệnh cấp tính, đường máu quá cao, xêtôn máu tăng cao, xêtôn niệu dương tính nặng.



Các chế độ luyện tập có thể áp dụng:
Đi bộ
Chạy bộ nhẹ nhàng
Đạp xe đạp chậm
Bóng bàn, bóng rổ (20 - 30 phút).
Nâng tạ nhẹ

Các hoạt động trên có thể kết hợp với các động tác thư giãn như tập thể dục nhẹ, tập các động tác mềm dẻo như uốn mình, các động tác cúi đầu, xoay cổ… hoặc các bài dưỡng sinh.

Các hoạt động thể lực nặng hơn như chạy tốc độ, đi bộ nhanh, bơi, tennis, đạp xe tốc độ … phải được phép của bác sỹ.

Điều trị tiểu đường bằng bài thuốc đông y

Bài thuốc đông y trị bệnh tiểu đường type 2 đang thu hút sự quan tâm của nhiều người. Bài thuốc đã được thử nghiệm thành công từ năm 2002 tại Viện Y học Cổ truyền Việt Nam.

Bác sĩ chuyên khoa cấp 2 Vũ Thị Kê - Trưởng khoa Nội A (Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương), Chủ nhiệm đề tài "Đánh giá tác dụng thuốc hỗ trợ điều trị bệnh tiểu đường type 2" bằng bài "Bát vị tri bá gia giảm" cho biết, bài thuốc là đề tài khoa học do Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương thực hiện năm 2003 - 2004. Đề tài đã được Hội đồng khoa học nghiệm thu ngày 4-6-2005 . Trên thực tế, đây là đề tài nhánh nằm trong đề tài cấp Nhà nước "Điều tra dịch tễ học bệnh tiểu đường" do Tiến sĩ Tạ Văn Bình - Giám đốc BV Nội tiết T.Ư làm chủ nhiệm đề tài.



Được biết, bài thuốc trên dựa trên bài thuốc cổ chữa bệnh tiểu đường đã có trong sách y học của Việt Nam từ thời xưa để lại.
Tuy nhiên, bài thuốc này mới chỉ được thử nghiệm độc tính trên chuột bạch và thỏ trong mấy năm gần đây. Kết quả cho thấy thuốc không có phản ứng phụ, không xảy ra tai biến trong suốt thời gian điều trị. Trước khi được thử nghiệm tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương, năm 2002, bài thuốc trên đã được áp dụng thử tại Viện Y học Cổ truyền Việt Nam trên vài trăm bệnh nhân trong thời gian 90 ngày cho kết quả tốt.

Chủ nhiệm đề lài là PGS.TS Dương Trọng Hiếu, lúc đó là Trưởng phòng Kế hoạch Tổng hợp (Bệnh viện Y học cổ truyền Việt Nam) đã cho phép bác sĩ Vũ Thị Kê áp dụng công thức của bài thuốc "Bát vị tri bá gia giảm" vào công tác điều trị bệnh tiểu đường tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương. Năm 2003, bác sĩ Kê thử nghiệm điều trị cho 71 bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường type 2 tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương.

Thời gian điều trị trung bình 46 ngày/bệnh nhân. Bệnh nhân cao tuổi nhất là 71 và ít tuổi nhất là 38. Trong số 71 người thử nghiệm thuốc đợt đầu tiên, người có chỉ số đường huyết cao nhất là 15, thấp nhất là 8. Sau 90 ngày điều trị, kết quả có 36 bệnh nhân (50,7%) ổn định bệnh, 35 bệnh nhân (49,3%) đỡ bệnh. Trong quá trình điều trị bệnh nhân được kết hợp chế độ ăn kiêng và không dùng các loại thuốc khác.
Sau khi kết thúc giai đoạn thử nghiệm, Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương tiếp tục điều trị được trên 70 bệnh nhân góp phần giảm số người mắc bệnh tiểu đường type 2 ở tỉnh Hải Dương - một tỉnh có nhiều người mắc tiểu đường type 2 tại Việt Nam. Tuy nhiên, bác sĩ Kê cũng khẳng định, bệnh tiểu đường type 2 không thể chữa khỏi, chỉ dừng lại ở mức ổn định vì nếu người bệnh ăn uống không kiêng khem bệnh sẽ tái phát vì đây là dạng bệnh do rối loạn chuyển hóa. Người bệnh có trọng lượng lớn, đặc biệt là người bị béo phì thuốc sẽ có tác dụng tốt hơn người có thể trạng gầy.

Bác sĩ Kê cho biết, sau khi bệnh nhân đã điều trị ổn định bệnh, chỉ số đường huyết trở về mức 7, người bệnh nên duy trì uống thuốc thêm 1 -2 tháng.

Đặc biệt, người bệnh tiếp tục chế độ ăn kiêng để tránh tái phát bệnh. Ăn nhiều ổi, bí xanh, táo nho và hoa quả không chứa nhiều đường là biện pháp hữu hiệu để duy trì sự ổn định của bệnh tiểu đường. Bên cạnh đó, người bệnh nên hạn chế ăn nhiều chất bột và tuyệt đối kiêng bia rượu. Hiện nay thuốc đã được sản xuất đại trà và bán rộng rãi tại Hải Dương. Bác sĩ Kê cho hay, Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương đang chuẩn bị hợp tác với một cơ sở sản xuất trong TP Hồ Chí Minh để sản xuất loại thuốc này.

Bài thuốc gồm các vị: Sinh địa 12 g, Sinh hoàng kỳ 12 g, Sơn thủ nhục 8 g, Tri mẫu 10 g, Bạch linh 8 g, Thiên hoa phấn 8 g, Ngũ vị tứ 8g, Đan bì 8g, Trạch tá 8g, Thạch cao 12g, Mạch môn 12g. Thuốc được sản xuất trên dạng cao lỏng 100ml/túi, ngày uống 2 túi trước bữa ăn 1 giờ. Giá thuốc sắc là 10.000 đồng/thang, thuốc cao có giá 14.000 đồng/túi. Bệnh nhân có thể mua thuốc trực tiếp tại Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương, phường Hải Tân, TP Hải Dương. Liên lạc qua điện thoại để được tư vấn theo số (0320) 861436-854756. Hoặc, gọi cho bác sĩ Vũ Thị Kê: 0912820695

Điều chỉnh chế độ ăn uống cho ngời bị bệnh tiểu đường

Đây là biện pháp điều trị rất quan trọng, bất kể bệnh nhân đái tháo đường ở tuýp nào, ở giai đoạn nào của bệnh, có điều trị bằng thuốc hay không đều phải tuân thủ chế độ ăn nghiêm túc. Có thể nói chế độ ăn hợp lý cho bệnh nhân đái tháo đường sẽ làm cho diễn biến của bệnh tốt lên, hạn chế được biến chứng. Ngược lại, nếu bệnh nhân không tuân thủ chế độ ăn uống nghiêm chỉnh thì dù có được điều trị bằng thuốc gì cũng không điều chỉnh được đường máu.
Có thể chỉ điều trị đơn thuần bằng chế độ ăn như trong đái tháo đường mức độ nhẹ, đái tháo đường ở các giai đoạn chưa có triệu chứng lâm sàng hoặc kết hợp thuốc hạ đường máu với chế độ ăn thích hợp ở đái tháo đường ở mức độ vừa và nặng. Về nguyên tắc, chế độ ăn phải bảo đảm đầy đủ chất, đảm bảo tỷ lệ đạm, đường, mỡ, cần thiết cho cơ thể, gần với hoàn cảnh sinh lý. Đường chiếm 50 - 60%; đạm chiếm 16 - 20%; mỡ chiếm 24 - 30% số lượng calo chung của khẩu phần. Nếu có béo phì thì phải giảm từ 10 - 20% lượng calo chung. Thông thường người bệnh đái tháo đường nên ăn từ 4 đến 6 bữa trong ngày. Các bữa ăn chính cần bảo đảm là sáng, trưa, chiều và bữa tối trước khi đi ngủ với lượng calo tỷ lệ theo các bữa là 30, 25 và 15% lượng calo. Nếu bệnh nhân có điều kiện có thể bố trí thêm các bữa ăn phụ vào giữa sáng (9 - 10h), bữa giữa chiều (16 - 17h).
Một số điểm cần chú ý đối với chế độ ăn cho người bị bệnh đái tháo đường là:
Không có chế độ ăn chung cho tất cả mọi người bị bệnh đái tháo đường mà tuỳ theo hoàn cảnh kính tế, sở thích, giai đoạn của bệnh mà tự mỗi người đề ra chế độ ăn phù hợp cho mình với sự tham gia tư vấn của thầy thuốc.
Giữ lịch các bữa ăn đúng giờ, chỉ ăn thịt tối đa (trong khuôn khổ cho phép) trong 2 bữa, cac bữa còn lại ăn rau và các sản phẩm ngũ cốc.
Phải tôn trọng nguyên tắc chế độ ăn uống là: thức ăn đa dạng, nhiều thành phần. Ăn đủ để có trọng lượng vừa phải. Hạn chế chất béo, đặc biệt là mỡ động vật. Có lượng chất xơ vừa phải. hạn chế ăn mặn. Tránh các đồ uống có rượu.
Chế biến thức ăn ở dạng đồ luộc và nấu là chính, không rán, rang với mỡ.
Không bỏ bữa, ngay cả khi không muốn ăn.
Khi cần ăn kiêng và hạn chế số lượng, phải giảm dần thức ăn theo thời gian. Khi đạt mức yêu cầu, nên duy trì một cách kiên nhẫn, không bao giờ được tăng lên.
Nên có bữa ăn phụ trước khí đi ngủ.

Các loại thức ăn nên chọn:
  • Các loại bánh mì không pha trộn với phụ gia.
  • Gạo, mỳ sợi (số lượng ít), tấm xay.
  • Sữa đã được lọc chất béo, sữa chua và pho mát không bơ.
  • Lòng trắng trứng gà.
  • Các loại thịt nạc (thị dê, bò, thịt thú rừng nạc).
  • Thịt ga, chim bỏ da.
  • Các loại cá (cá béo bỏ da).

Thức ăn nên hạn chế:
  • Bánh mì trắng, ngọt
  • Gạo lức, bánh ngọt nhân hoa quả
  • Các loại cá béo chứa nhiều mỡ
  • Thịt dê, cừu.
  • Bơ thực vật
  • Rau quả đóng hộp
  • Các nước hao quả đậm đặc, nước khoáng có đường.
  • Các loại quả ngọt
  • Cà phê, chè (số lượng vừa phải)
  • Chất ngọt nhân tạo
Thức ăn cần tránh:
Đường (trừ lượng cho phép), mật, các loại bánh ngọt, kẹo sô cô la, mứt, các loại nước quả có đường.
Các loại mì chính, bột ngọt, bánh có đường và chất béo chế biến công nghiệp.
Sữa thô chưa chế biến và các loại sản phẩm chứa sữa thô.
Thịt nhiều mỡ như thịt lợn, thịt cừu, xúc xích lợn, mỡ, gan, thận, phổi …
Các loại hải sản chứa nhiều mỡ, cá nheo, cá tra, sò, ngao, cua bể.
Lòng đỏ trứng gà.
Ngỗng, ngan vịt.
Bơ, mỡ đông lạnh
Khoai tây rán các loại
Các loại quả ngọt sấy khô.
Các loại đồ uống có rượu, nước giải khát có đường coca cola, pepsi…
Chú ý: Việc ăn kiêng cần phải được dựa trên chỉ số đường máu của người bệnh. Nếu đường máu hạ thấp thì việc ăn kiêng là không cần thiết.

Điều trị bệnh tiểu đường



Bệnh đái tháo đường là bệnh gây nên do tổn thương tế bào tiết Insulin nên người bệnh cần phải được điều trị bằng chế độ ăn và bằng thuốc Insulin suốt đời đối với tuýp 1, hoặc chế độ ăn và các thuốc hạ đường máu hay Insulin đối với tuýp 2.

Nếu điều chỉnh được nồng độ đường máu gần với mức sinh lý bình thường, bệnh nhân sẽ sinh hoạt và làm việc bình thường.

Phải điều trị song song bệnh đái tháo đường và các biến chứng do bệnh gây ra. Điều trị bệnh tốt, điều chỉnh được liều thuốc thích hợp sẽ làm giảm biến chứng của bệnh.

Điều trị bệnh đái tháo đường bao gồm chế độ ăn uống, thuốc hạ đường máu và tập luyện.

Tiến triển của bệnh tiểu đường



Đái tháo đường có hai loại biến chứng là biến chứng cấp tính và mãn tính:



Biến chứng cấp tính:

Là những biến chứng xảy ra đột ngột, diễn biến nhanh, dễ đe doạ mạng sống của người bệnh nếu không được cấp cứu kịp thời.




Biến chứng hạ đường huyết máu:

Là biến chứng hay gặp do người bệnh thực hiện chế độ ăn quá khắt khe hoặc do dùng thuốc quá liều. Để dự phòng biến chứng này, người bệnh cần thực hiện đầy đủ các chỉ dẫn của thày thuốc, không nên tiêm Insulin tác dụng nhanh vào buổi tối, tránh thay đối đột ngột trong sử dụng thuốc. Người bệnh nên có bữa ăn phụ trước khi đỉ ngủ và luôn mang theo mình y bạ hoặc thẻ có ghi rõ họ tên, căn bệnh, thuốc đang sử dụng để đề phòng khi có hôn mê sẽ có thông tin phục vụ cho việc cấp cứu. Những triệu chứng báo trước của hôn mê hạ đường máu là người bệnh có cảm giác cồn cào, vã mồ hôi, bủn rủn chân tay…




Nhiễm toan xê tôn và hôn mêm do nhiễm toan xê tôn:

Là tình trạng nhiễm độc do máu bị toan hoá vì tăng nồng độ acid axetic, thường gặp ở người đái tháo đường tuýp 1, đây là sản phẩm của những chuyển hoá dở dang do thiếu Insulin gây ra. Nguyên nhân chính dẫn đễn hôn mê do nhiễm toan xêtôn là do người bệnh tự ý giảm liều Insulin và không thực hiện chế độ ăn kiêng. Những dấu hiệu báo trước có nhiễm toan xêtôn là chán ăn, khát và uồng nhiều hơn, lượng nước tiểu nhiều hơn ngày thường, rát họng, đau đầu, đau bụng, đỏ da, đại tiện phân nát hoặc lỏng và đi nhiều lần trong ngày.

Cách phòng tránh tốt nhất là biết tự kiểm tra, theo dõi bệnh, thực hiện đùng chế độ điều trị, sinh hoạt và không tụ ý thay đổi liều Insulin đang dùng.



Hôn mê do tăng đường máu hay hôn mê tăng áp lực thẩm thấu:

Thường gặp ở người đái tháo đường tuýp 2 thể béo. Nguyên nhân do dùng thuốc không đủ liêu, thức ăn có nhiều đường, chần thương tinh thần, không luyện tập…

Những triệu chứng báo trước: khát nhiều gây uống nhiều nước hơn bình thường. Đói nhiều hơn bình thường. Da khô hoặc có cảm giác ngứa không rõ nguyên nhân. Mệt mỏi hoặc ngủ nhiều hơn bình thường.

Cách phòng tránh hôn mê do tăng đường máu hay hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là thực hiện chế độ ăn uống, chế độ luyện tập, sử dụng thuốc theo đúng hướng dẫn của bác sỹ, khàm bệnh theo định kỳ đẻ điều chỉnh liều thuốc sử dụng.

Biến chứng mạn tính

Người bị đái tháo đường thường gặp những biến chứng mạn tính nguy hiểm sau:

Bệnh lý mạch máu lớn:



Đái tháo đường thúc đẩy quá trình vữa xơ động mạch tiến triển nhanh; tăng hiện tượng tắc mạch do huyết khối; tổn thương mạch vành gây nhồi máu cơ tim, tổn thương mạch máu não gây đột quỵ, tổn thương mạch máu ngoại vi mà hay gặp nhất là mạch máu chi dưới; gây hoại tử dẫn đến cắt cụt chi.

Tổn thương mạch máu nhỏ:


Tổn thương võng mạc gây mù loà, tổn thương tiểu cầu thận gây suy thận, tổn thương các dây thần kinh với biểu hiện bệnh thần kinh cảm giác, vận động và tự chủ.

Là cơ địa thuận lợi cho bệnh nhiễm trùng phát triển

Gây bất lực tình dục hoặc các rối loạn tình dục khác


Cách phòng chống tốt nhất các biến chứng mạn tính là quản lý tốt nồng độ đường máu, luôn giữ nộng độ đường máu ở mức bình thường. Nên khám bệnh theo định kỳ để phát hiện sớm các biến chứng nếu có. Cần thực hiện tốt lời khuyên của thày thuốc.

Biến chứng của bệnh tiểu đường

1. Hư răng:
Bệnh này dễ gây đau nứơu răng do đóng vôi, và nhiễm trùng. Miệng lưỡi hay khô và hôi miệng. Bệnh nhân phải khám răng định kỳ thường xuyên, đánh răng cho kỹ và nhất là không hút thuốc lá.

2. Hư mắt (diabetic retinopa-thy):Mắt mờ chưa chắc là đã cần thay kiếng, nhưng rất có thể là do đường trong máu quá cao vào lúc đó. Hạ lượng đường trong máu xuống có thể giúp thị lực khá ngay. Những mạch máu nhỏ dễ nghẽn và bị bể trong lòng mắt (retina) là nguyên nhân chính gây ra mù lòa tại Mỹ. Chúng ta nên để ý những triệu chứng như là mắt mờ, thấy chấm đen trước mặt, đau mắt, nhìn thấy cái gì cũng hai hình cả, đèn chớp chớp trước mắt (flashing lights), hay không nhìn thấy những hai phía bên cạnh. Những người bệnh tiểu đường cũng hay dễ bị cườm nước (glaucoma) và cườm khô (cataract). Những năm đầu vừa mới bị tiểu đường thì thường không có triệu chứng, nhưng chúng ta cũng phải đi khám mắt ít nhất mỗi năm một lần để bác sĩ có thể phát hiện sớm những thay đổi trong retina và chữa trị cho đúng cách.

3. Hư thận (diabetic nephropa-thy):Tiểu đường là một trong những nguyên do chính làm hư thận tại Mỹ, với khoảng 4000 trường hợp ở giai đoạn cuối (end stage renal disease) được phát hiện mỗi năm. Tiểu đường loại 1 chóng bị hư thận hơn loại 2. Ðuờng lưu thông cao trong máu lâu ngày sẽ làm hư những mạch máu nhỏ, dẫn đến hư thận. Khi thận bị hư hoàn toàn bệnh nhân sẽ cảm thấy rất mệt mỏi, người bị phù, khó thở, mê sảng vào giai đoạn cuối vì do thận không lọc nước tiểu và các chất độc và dơ trong máu do cơ thể phát ra. Áp huyết sẽ lên cao. Một khi thận bị hư hại hoàn toàn chỉ còn cách duy nhất để duy trì tính mạng là dùng máy lọc thận (dialysis). Thử nước tiểu đo microalbumin thường xuyên hàng năm sẽ giúp bác sĩ phát hiện sớm để kịp thời chữa trị làm cho thận hư chậm lại. Dùng thuốc để giữ cho lượng đường luôn luôn càng gần mức bình thường, giữ áp huyết cho dưới 130/80, ăn uống bớt chất đạm và ăn nhạt là điều tối cần thiết để bảo tồn chức năng thận.

4. Tai biến mạch máu:
Bệnh nhân rất dễ bị chứng nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não làm bán thân bất toại đa số là do bị bệnh mỡ cùng với áp huyết cao mà bệnh nhân tiểu đường hay gặp phải. Thống kê cho thấy là 65% tử vong ở bệnh nhân tiểu đường là do tai biến mạch máu mà ra. Nguyên nhân chính là mỡ, đường lâu ngày làm nghẽn và cứng các động mạch khiến cho máu không lưu thông tới được các bộ phận cần thiết. Bệnh nhân phải để ý đến những triệu chứng như là khó thơœ, mệt, đổ mồ hôi, đau ngực khi làm việc hơi nặng. Bàn chân lạnh tím, hay đau bắp vế chân khi đi bộ, mất lông chân là những triệu chứng nghẽn mạch dẫn máu về chân. Kiềm giữ lượng đường ở mức tốt (hba1c dưới 7%) sẽ giúp giảm tyœ lệ nguy cơ biến chứng. Thể dục hay thể thao thường xuyên, tránh béo phì, uống thuốc chống mỡ cao, hạ áp huyết, không hút thuốc, uống một viên Aspirin 81 mg mỗi ngày.

5. Ðau hệ thống thần kinh (diabetic neuropathy) gồm có 2 loại:

Peripheral neuropathy: Tiểu đường càng lâu thì càng dễ bị, thường ảnh hưởng nhiều nhất ở phía dưới chân, gây đau nhức từ đầu gối trở xuống bàn chân vào ban đêm, như kiến bò hay kim đâm, hay tê hẳn, có thể đau ở bàn tay. Bắp thịt có thể bị teo,yếu dần, khó cử động. Mắt cũng có thể bị tê liệt. Vì do tê, mất cảm giác, nên bệnh nhân dễ bị lở loét dưới bàn chân do đi đạp phải vật nhọn hoặc cọ sát bởi đôi giầy chật, rồi từ đó gây nhiễm trùng và có thể bị cưa chân. Bệnh nhân cần phải kiểm soát bàn chân mỗi tối trước khi đi ngủ, mặc quần ống cho thoaœi mái và nên tham khảo với bác sĩ gia đình hoặc bác sĩ Bộ Khoa (podiatrist) nếu có triệu chứng gì khác lạ.

Autonomic neuropathy: Bệnh nhân sẽ bị xáo trộn nhịp tim, huyết áp chạy không đúng gây ra chứng chóng mặt (postural hypotension), tiêu chảy táo bón bất thường, buồn nôn mửa, đi tiểu khó khăn, khô âm đạo và nhất là bị chứng liệt dương. Bệnh nhân liệt dương bây giờ đỡ khổ hơn lúc trước nhiều, vì có thuốc chữa trị khá hiệu quả. Nên tham khảo với bác sĩ.
6. Ðau chân (foot problems): Hội chứng đau chân rất là thông thường ở bệnh tiểu đường do mạch máu không lưu thông và giây thần kinh hư (diabetic neu-ropathy), rồi từ đó gây ra lở loét (ulcer) dưới bàn chân và làm hư thối (gangrene). Chúng ta phải để ý nếu vết thương nhỏ nơi chân không lành. Nếu để tới giai đoạn gangrene thì chỉ còn cách là cưa chân để chặn đứng lại sự nhiễm trùng. Bệnh nhân cũng hay bị nấm dưới chân (athlete foot) làm ngứa ngáy, khó chịu, nấm trong móng chân làm đau ngón chân và có thể bị mất móng chân. Khô da chân, hay chai da dưới bàn chân (corns, calluses) cũng dễ gây ra lở loét mà chúng ta cũng cần phải để ý. Nếu chúng ta bị tiểu đường thì mỗi khi đi bác sĩ nên cởi hết vớ giày ra để khám. Chớ nên đi chân không ngoài đường, bãi biển, trong vườn, dễ bị cắt đứt da khi đạp phải vật nhọn vì cảm giác không còn, gây ra nhiễm trùng. Nên mang giầy tốt, khít khao, tắm rửa chùi khô bàn chân, thị sát bàn chân mỗi ngày là những điều phải làm để tránh hậu quả. Cũng phải thường xuyên gặp bác sĩ Bộ Khoa để được khám và chữa trị cho tường tận.

7. Ðường quá cao (Hyperglycemic hyperosmolar non ketotic coma):
Là một hội chứng hay gặp phải ở người già trên 60, tiểu đường loại 2 mà đang bị một bệnh gì khác như nhiễm trùng đường tiểu, viêm phổi, bị stress, bệnh tim, chaœy máu ruột, hư thận, stroke. Bệnh nhân sẽ khát nước và đi tiểu rất nhiều trước khi trở nặng vào nhà thương, sẽ mê man vì thiếu nước nặng, lượng đường trong máu có thể lên tới cả ngàn. Trường hợp này có thể nguy hiểm đến tính mạng nếu không vào nhà thương kịp. Tiểu đường loại 1 cũng có hội chứng tương tự (diabetic ketoacido-sis) gặp phải ơœ những ai không cẩn thận trong vấn đề ăn uống, chích thuốc Insulin không đúng cách, sai liều hoặc không chích hoặc đang bị một bệnh nào khác làm cho cơ thể không đủ insulin dù vẫn chích cùng liều như mọi lần. Bệnh nhân thường là giới trẻ, sẽ ói mửa, đau bụng, khát nước và đi tiểu, xuống cân do mất nước, có thể bị hôn mê. Ðường trong máu sẽ lên tới vài trăm (400-600), có ketones trong máu và nước tiểu. Cả hai trường hợp trên đều phải vô nhà thương để tiếp nước, chích insulin và tìm chữa bệnh đi kèm.

8. Ðường quá thấp (hypo-glycemia, dưới 70 mg/dl):
Thường xảy ra ở những ai bỏ bữa ăn, ăn xái giờ mà vẫn uống thuốc hoặc chích insulin, exercise quá độ hôm đó, hay uống rượu hơi nhiều. Bệnh nhân sẽ bất ngờ như muốn xỉu, nhức đầu, tay chân bủn rủn, toát mồ hôi lạnh, hoa mắt, có thể té bất tỉnh, giựt kinh phong. Nếu còn tỉnh táo để có thể uống một ly nước cam hay ăn một miếng bánh thì sẽ khỏe lại ngay. Bệnh nhân tiểu đừơng, nhất là những ai phải nsulin thì lúc nào cũng nên có một miếng bánh, cục kẹo, trái cây trong cặp hoặc trong xe để ăn liền khi gặp trường hợp trên. Bệnh nhân cũng nên có một thuốc chích gọi là glucagon để sẵn ở nhà, đề phòng trường hợp bị hôn mê không biết trời trăng để ngậm kẹo, thì người thân sẽ dùng thuốc này chích để cho lượng đường lên cấp tốc, hầu cứu sống họ. Nếu đường thấp hay xảy ra thường xuyên thì nên cho bác sĩ biết để điều chỉnh lại thuốc hay gặp nhà dinh dưỡng để được cố vấn về cách ăn uống.

9. Bệnh ngoài da:
Bệnh nhân dễ bị da khô do mất nước vì đi tiểu nhiều, ít mồ hôi vì đau giây thần kinh đặc biệt là mồ hôi nơi chân. Da bị ngứa ngáy làm bệnh nhân gãi, rách da và từ đó làm nhiễm trùng, gây mụn nhọt. Bệnh nhân mập mạp thường hay bị nấm chỗ háng, nách và dưới vú nếu là đàn bà. Da bị nấm sẽ đỏ rát, có mụn nước, đau đớn, ngứa ngáy rất là khó chịu (candidiasis). Chúng ta phải để ý làn da nhất là ở phía dưới chân thường xuyên, xem xét những chỗ bị đỏ, đổi màu, mọc mụt nước làm ngứa ngáy, đều có thể gây nhiễm trùng.

Biểu hiện của bệnh tiểu đường



Biểu hiện bệnh:




Các biểu hiện thường gặp:
Người bệnh ăn nhiều, cảm giác thèm ăn tăng lên
Uống nước nhiều, luôn có cảm giác khát nước.
Đái nhiều
Gầy sút nhanh mặc dù ăn nhiều
Mồm khô, da khô, mệt mỏi
Nước tiểu đậm đặc hơn, có thể gặp nước tiểu có kiến bâu, ruồi đậu (vì trong nước tiểu có đường), nếm nước tiểu có vị ngọt.



Có thể thấy một số biểu hiện khác như:
Hay bị sẩn ngứa ngoài da, hay có mụn nhọt, hay bị nhiễm trùng ngoài da và khó lành
Dễ bị viêm quanh rằng và tiến triển nhanh đến răng lung lay nhiều, rụng răng do viêm quanh răng.
Dễ bị vữa xơ động mạch dẫn đến nhồi máu cơ tim, tắc mạch não, tác mạch chi dưới gây hoại tử đầu chi…
Dễ bị viêm phôi, viêm phế quản.
Dễ bị viêm đường tiết niệu, có proteid niệu (viêm xơ tiểu cầu thận do đái tháo đường), tăng huyết áp và suy thận.
Đục thuỷ tinh thể là dấu hiệu xuất hiện tương đối sớm dẫn đến giảm thị lực và mù loà.
Cảm giác dị cảm đầu chỉ, kiến bò kim châm, đau trong cơ và thường biểu hiện ở các phần xa của chi, các ngón, hay xuất hiện vào ban đêm.

 

Copyright @ 2013 Bệnh tiểu đường kiến thức cần biết.

Designed by T , suc khoe